Phát Hiện Ngọc Cẩm Thạch Jadeite Được Làm Từ Đá Albite

Phát hiện ngọc cẩm thạch jadeite được làm từ đá Albite

Ngọc cẩm thạch jadeite là một loại đá quý thuộc nhóm Pyroxen, được hình thành từ quá trình đá biến chất ở áp suất cao và nhiệt độ tương đối thấp.

Sự hình thành của ngọc cẩm thạch jadeite

Pyroxene giàu cả thành phần cuối jadeite và augite được gọi là omphacite. Đá cẩm thạch Jadeite được hình thành trong đá biến chất ở điều kiện áp suất cao và nhiệt độ tương đối thấp. Albite (NaAlSi3O8) là một khoáng chất phổ biến của vỏ Trái đất, và nó có trọng lượng riêng khoảng 2,6, nhỏ hơn nhiều so với ngọc cẩm thạch.

Với áp suất ngày càng tăng, albite bị phá vỡ tạo thành tập hợp áp suất cao của jadeite cộng sinh với thạch anh. Các khoáng chất liên kết với jadeite bao gồm: glaucophane, lawsonit, muscovit, aragonit, serpentine và thạch anh. (Wikipedia)

Do đó, có thể nói cẩm thạch Jadeite là một loại đá đa khoáng bao gồm albite, epidote và jadeite. Nếu các thành epidote, albite, jadeite có tỷ lệ tương đương nhau thì khoáng vật được tạo thành không gọi là cẩm thạch mà gọi là Maw sit sit.

Như vậy nếu một khối cẩm thạch thô bao gồm nhiều tinh thể khác nhau nhưng ở điều kiện lý tưởng nào đó, thành phần jadeite nhiềuu hơn thì sẻ được gọi là ngọc cẩm thạch jadeite. Còn với những khối ngọc cẩm thạch thô có hàm lượng jadeite chiếm chủ yếu tới 90% hoặc 100% (độ tinh khiết cao) lúc này nó sẽ có tên gọi là jadeite jadeiteite hay tạm gọi là thủy tinh kính hay lão khanh chủng.

Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, giá trị của ngọc cẩm thạch phụ thuộc vào hàm lượng jadeite có trong khối ngọc thô. Để xác định được tỷ lệ của thành phần này, người ta sẽ dùng các thiết bị kiểm định đá quý chuyên nghiệp.

Phát hiện ngọc cẩm thạch jadeite được làm từ đá Albite

Trong quá trình hình thành ngọc cẩm thạch jadeite, có một loại đá khác cộng sinh với chúng được gọi là Albite. Tuy nhiên, do sự phổ biến và một vài thành phần khác nhau nên nó không có giá trị cao như jadeite.

Vì lý do đó mà một số thương lái đã lợi dụng điều này để làm giả ngọc cẩm thạch jadeite từ đá Albite hết sức tinh vi. Trong bài viết dưới đây, GMT JADE sẽ chia sẻ với quý độc giả một trường hợp làm giả ngọc cẩm thạch jadeite từ đá Albite đang được bán tràn lan trên thị trường.

Với giá trị cao và nhu cầu từ người tiêu dùng Trung Quốc đối với ngọc jadeite (hoặc ngọc phỉ thúy), việc xác định chính xác các mẫu vòng ngọc cẩm thạch giả là một thách thức lớn đối với các phòng thí nghiệm đá quý. Thành phần khoáng chất phức tạp của Jadeite và bản chất của nó là đá chứ không phải khoáng chất càng làm phức tạp thêm vấn đề này.

Trong khi ngọc cẩm thạch jadeite là khoáng chất chính trong ngọc jadeite, các khoáng chất pyroxene khác như kosmochlor, omphacite, khoáng chất nhóm amphibole, plagioclase (đặc biệt là albite), và thậm chí một số oxit sắt cũng có thể có mặt. Gần đây, phòng thí nghiệm của Trung tâm Kiểm định Quốc gia đã kiểm tra 29 chiếc vòng đeo tay nghi ngờ là ngọc cẩm thạch jadeite giả. Và chúng tôi đã tiến hành kiểm tra chi tiết để xác minh danh tính của mẫu vật này.

Phát Hiện Ngọc Cẩm Thạch Jadeite Được Làm Từ Đá Albite

Các mẫu có thể được tách thành hai nhóm, một nhóm có kết cấu và màu sắc mịn hơn (thể hiện ở bên trái trong hình). Các thử nghiệm đá quý tiêu chuẩn được áp dụng cho tất cả các mẫu và các đặc điểm bề mặt được quan sát bằng kính hiển vi đá quý tiêu chuẩn.

Các mẫu cho thấy vạch 437 nm đặc trưng bằng máy quang phổ cầm tay. Mười chỉ số RI tại chỗ được chọn ngẫu nhiên được ghi lại trên mỗi vòng đeo và kết quả cung cấp những hiểu biết thú vị. Hai kết quả khác nhau là 1,52 và 1,66 đã được quan sát, cho thấy sự hiện diện của hai thành phần chính. SG dao động từ 2,99 đến 3,34, trong khi SG tham chiếu cho ngọc jadeite là 3,34 (+ 0,06–0,09). SG thấp cho thấy một lượng đáng kể các khoáng chất nhẹ trong các mẫu này.

Thêm một quan sát khác là nhóm có độ bóng và màu sắc kém hơn (thể hiện ở bên phải trong hình trên) có xu hướng có SG thấp hơn so với các mẫu chất lượng cao hơn. Nhìn chung, hầu hết các mẫu đều trơ với UV, mặc dù sáu mẫu cho thấy huỳnh quang hơi xanh phân bố không đồng đều từ yếu đến trung bình.

Ngoài ra, độ phóng đại 30 × và chiếu sáng trường sáng, hai nhóm khoáng chất chính có màu sắc tương phản, hình dạng tinh thể và ánh sáng đã được tiết lộ.

Phổ hồng ngoại truyền qua thu thập từ các vị trí phát huỳnh quang yếu đến trung bình không cho thấy các đặc điểm liên quan đến polyme. Để xác nhận thành phần của hai khoáng chất chính, chúng tôi đã thu thập phổ phản xạ tia hồng ngoại vi mô từ chúng.

Phát Hiện Ngọc Cẩm Thạch Jadeite Được Làm Từ Đá Albite

Phổ của khoáng vật màu trắng nhạt chỉ ra cẩm thạch jadeite, với sự hiện diện của các dải 1050 và 744 cm – 1 đặc trưng ngoài bốn dải từ 400 đến 600 cm – 1. Phổ IR của khoáng chất kem phù hợp với phổ của albite, với đỉnh đặc trưng ở dải 1040 cm – 1 được gán cho dao động kéo dài Si-O trong cấu trúc tứ diện SiO4. Nhiều đỉnh trong vùng 800–700 cm – 1 cũng có thể giúp phân biệt albite với jadeite.

Các chỉ số RI giao ngay xung quanh 1,52 phù hợp với RI được công bố của albite là 1,528–1,542. SG của albite là 2,60–2,65, thấp hơn đáng kể so với jadeite. Sự hiện diện của albite như một thành phần khoáng chất chính trong ngọc cẩm thạch jadeite này có thể chiếm SG thấp hơn nhiều trong hầu hết các mẫu.

Mặc dù albite là một trong những khoáng chất phổ biến trong ngọc jadeite, nhưng số lượng này thường rất nhỏ và không thể dễ dàng phát hiện bằng các xét nghiệm đá quý tiêu chuẩn. Bởi vì phòng thí nghiệm không thể tiêu hủy các mẫu, không có dữ liệu định lượng nào đạt được.

Việc xác định các nguyên liệu này không dễ dàng, đặc biệt là khi nồng độ của một số thành phần không thể xác định được về mặt định lượng và không có tiêu chuẩn thương mại về ranh giới cho các giống khác nhau.

Nghiên cứu này như một lời nhắc nhở rằng ngoài vấn đề omphacite, nồng độ albite cao trong một số hàng hóa là một vấn đề tiềm ẩn mà các phòng thí nghiệm phải đối mặt. Để bảo vệ người tiêu dùng tốt hơn, NGDTC khuyến nghị tuyên bố rõ ràng về sự hiện diện của albite trên các báo cáo trong phòng thí nghiệm sau khi albite được xác định bằng thử nghiệm đá quý tiêu chuẩn, đặc biệt là theo chỉ số khúc xạ, thậm chí bằng máy đo phổ FTIR.

Shopping Cart